Tiến sĩ: Nguyễn Đăng Huy
Tham luận: “Hội thảo khoa học và thực tiễn về Tiếp tục phát huy các giá trị văn hóa tâm linh trong phát triển của Việt Nam”.
GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÂM LINH TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
I. MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, trong xã hội ngày nay văn hóa tâm linh rất đa dạng, phong phú, đem lại những giá trị cốt lõi to lớn. Việc hội nhập sâu và rộng đã mang các màu sắc văn hóa từ các nước trên thế giới đến Việt Nam. Cùng với đó là sự phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và xu hướng toàn cầu hóa đa tuyến, đã tạo nên những thay đổi đáng kể. Trong đó có những thuận lợi, nhưng cũng tạo ra những tác động trái chiều. Cụ thể tình trạng biến tướng, lạm dụng quá đà về tâm linh, đã ảnh hưởng đến sự cân bằng và ổn định tâm hồn của con người. Có thể nói tác hại của việc giao thoa trên dễ dẫn đến hiện tượng “hòa tan”, mà nguy cơ kề cận là giá trị văn hóa thờ cúng tổ tiên sẽ bị mất dần. Tôi đồng quan điểm với triết gia Frankl Goky “Một đức tin phi chân lý chiếm đa số tín nhân, sẽ ép buộc đức tin có tính chân lý ít tín nhân phải thích nghi theo cách của nó”. Nếu chúng ta thờ ơ trước văn hóa thờ cúng tổ tiên ngày hôm nay, hệ quả là sẽ làm mất đi tính đa dạng và làm giảm tính độc đáo, bản sắc riêng. Đó là một tổn thương lớn đối với dân tộc Việt Nam ta.

TS. Nguyễn Đăng Huy - Chủ tịch Viện Nghiên cứu và Phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam (INREC) trình bày tham luận tại Hội thảo.
II. THỰC TRẠNG
Mặt trái đầu tiên là tính dị biệt, tiếp nhận những hủ tục sai trái ngoại lai, dẫn đến lạm dụng tín ngưỡng có tính chất cực đoan, vì tin rằng đó là hành động trừ tận được các thế lực ma quỷ.
Mặt trái thứ hai là sự khép kín và hạn chế tầm nhìn, mang định kiến bảo thủ và khó tiếp cận với những giá trị chỉ phục văn hóa truyền thống. Điều này có thể ảnh hưởng đến việc phát triển, cũng như tạo nên khoảng cách giữa người với người, gây ra sự phân biệt, mâu thuẫn và xung đột tinh thần.
Từ đó nảy sinh, nhiều mặt hạn chế mà phổ biến nhất hiện nay như:
1. Nhận thức tín ngưỡng thiếu tính lý luận khoa học: Một số tin rằng thần linh có thể giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống hơn là khoa học tâm linh.
2.Sự hạn chế hiểu biết về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Làkhông tìm hiểu về nguồn gốc nghi thức thờ cúng tổ tiên. Điều này có thể dẫn đến hiểu sai về cách thực hành lễ nghi;
3.Sự thiếu niềm tin về tổ tiên: Là sự ám thị và xem nhẹ việc thờ cúng tổ tiên, dẫn đến sự phân cực đức tin và xung đột tinh thần;
4.Sự lạm dụng tín ngưỡng để tư lợi: Nhiều cá thểsử dụng tín ngưỡng để tư lợi cá nhân, đánh tráo khái niệm nhân hóa thần thánh, sử dụng để áp đặt ý niệm kìm hãm quyền tự chủ tâm thái.
III. GIÁ TRỊ VĂN HÓA TÂM LINH TRONG VIỆC THỜ CÚNG TỔ TIÊN, THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
Nền văn minh vật chất đã chi phối ý thức nhận thức của con người, làm xơ cứng tâm hồn và phản ánh thế giới quan tâm linh vô cảm và hời hợt. Trong khuôn khổ tham luận khoa học về “Giá trị văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên” của dân tộc Việt Nam. Chúng ta cần làm rõ được nội dung, tính cốt lõi mang lại giá trị to lớn, khi ấy mới có thể gìn giữ và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Kỷ nguyên mà loài người hòa nhập vào thời đại công nghệ, một cách đúng đắn nhất về tính Chân - Thiện - Mỹ. Trong đó, giá trị thực tiển văn hóa tâm linh thờ cúng tổ tiên, thờ cúng Hùng Vương được lịch sử khắc họa qua 03 nội dung sau:
Thứ nhất, coi trọng về tính nguồn gốc và đưa nguồn cội tổ tiên lên hàng thượng đẳng thần.
Thứ hai, coi trọng về môi trường sống tôn trọng những thực thể thiên nhiên tác động đến sự sống là thần linh.
Thứ ba, coi trọng và luôn luôn hướng đến tính cân bằng tâm thái tinh thần con người giữa các cặp phạm trù triết học nhân sinh.
Trước hết, cần nhận thức rõ về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, là thực thể ý thức tồn tại độc lập khách quan về niềm tin vào thần linh, mang lại sự bình an cho mỗi cá nhân gắn chặt với niềm tự hào dân tộc. Văn hóa tâm linh truyền thống Việt Nam, là tín ngưỡng đa thần dựa trên yếu tố nguồn cội và tính thiên nhiên thụ cảm về môi trường sống.
Từ đó, 05 cơ sở hình thành nên diện sắc văn hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thuần Việt gồm có:
1. Người Việt xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” – tức là mọi vật đều có linh hồn và phản ánh thế giới tự nhiên xung quanh, trở thành đầu mối của tín ngưỡng.
2. Niềm tin về sự tồn tại của linh hồn, mối liên hệ giữa người chết và người sống (cùng chung huyết thống). Từ đó tin rằng, người chết thường tại linh hồn ở Đại Vũ Thần quay về chứng kiến, dõi theo hành vi của con cháu mà phù hộ.
3. Ý thức nhận thức luôn tôn trọng cội nguồn và đức tính hiếu thảo của người Việt, cũng là cơ sở quan trọng định hình nên diện sắc tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
4. Con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinh thành, như khi còn sống hay đã chết, đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với tổ tiên.
5. Sắc thái bình dị và nội dung giàu tính thực tiễn khoa học, không cực đoan. Có tính kế thừa nêu gương cho thế hệ sau, không chỉ vì trách nhiệm đối với các bậc sinh thành. Mà còn để giáo dục dạy dỗ con cháu lưu truyền giống nòi, kế thừa những giá trị tốt đẹp và phát triển bền vững theo dòng chảy lịch sử dân tộc.
Từ đó, đã hình thành nên 03 đặc tính riêng biệt độc đáo, tạo nên sự khác biệt giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt với các tín ngưỡng khác. Các yếu tố ấy thể hiện được giá trị cốt lõi, nét đặc trưng trong văn hóa tâm linh truyền thống thuần Việt.
Thứ nhất, coi trọng về tính nguồn gốc và đưa nguồn cội tổ tiên lên hàng thượng đẳng thần như: đấng Thượng đế tối cao cùng Tam thanh Ngọc đế - Tam tòa Thiên mẫu; Thượng tổ mẫu Hồng Dung Thị; Đức Thượng tổ Kinh Dương Vương, Quốc tổ Lạc Long Quân, Quốc mẫu Âu Cơ; 18 chi Hùng Vương, 108 các vị vua Hùng.
Bên cạnh đó còn có Bốn vị Đẳng thần – Tứ bất tử.
Hàng đẳng thần thứ nhất là Sơn Tinh – Tản Viên Sơn Thánh: biểu tượng văn hóa Phồn thần – tính dân tộc Lạc Việt. Người Lạc Việt tin rằng có một đấng siêu nhiên đang ngự trên họ và có quyền năng tối thượng trên con người. Do đó họ tin các vị thần sẽ bảo vệ cái tốt và trừng trị cái xấu.
Hàng đẳng thần thứ hai là Thánh Gióng - Phù Đồng Thiên Vương: biểu tượng văn hóa Phồn sinh – tính quật khởi, bảo vệ tổ quốc. Người Lạc Việt thờ thần khí của sự mạnh mẽ, kiên cường, bất khuất, không chịu đầu hàng, bảo vệ gia đình, dân tộc của chính mình trước những thế lực hắc ám.
Hàng đẳng thần thứ ba là Chử Đồng Tử - Tiên Dung: biểu tượng văn hóa Phồn thể - tính đồng bào, giống nòi, dòng tộc. Đại diện cho thần khí của sự phát triển, sinh sôi nảy nở, tình yêu thương, sẻ chia, liên kết với nhau cùng xây dựng một đời sống tốt đẹp.
Hàng đẳng thần thứ tư là Mẫu Liễu Hạnh: biểu tượng văn hóa Phồn thực – tính phát triển và an dưỡng. Người Lạc Việt thờ thần khí của sự nuôi dưỡng, chăm sóc thông qua thực dưỡng từ các món ăn truyền thống đậm chất tự nhiên vùng miền khí hậu, các bài thuốc nam dược như Khưu Thiên Châu – Cao Lạc Đế, Khưu Tử Thần Đan giúp an dưỡng sức khỏe, bảo vệ con người trước các tác động của cái xấu.
Thứ hai, coi trọng về môi trường sống tôn trọng những thực thể thiên nhiên tác động đến sự sống là thần linh như:
- Đức Thành hoàng Bản cảnh chư vị Đại Vươngtrú xứ, đây là vị thần cai quản nhà cửa, sân vườn, vị thần bảo vệ cho gia chủ có một ngôi nhà vững chắc, đẹp đẽ, có một không gian sống hòa cùng thiên nhiên. Ngay cả“Thành hoàng” của nhiều làng cũng không chỉ là người đã có công tạo dựng nên làng, mà còn là người có công, có đức với nước. Đã được các cụ bảng nhãn xa xưa tôn thờ làm “Thành hoàng”.
- Ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, đây là vị thần cai quản bản mệnh, cai quản sự sống của những thành viên trong gia đình, giữ ngọn lửa để nấu bữa cơm ngon lành, ngọn lửa tạo nhiệt lượng sinh khí ấm áp cho ngôi nhà, ngọn lửa soi sáng trong nhà như một hình tượng khác của ánh sáng Mặt Trời.
- Ngài Thủy chúa Long mạch Tôn thần, đây là vị thần cai quản nguồn nước, suối nguồn của sự sống – dùng để nấu ăn, nước uống để tạo môi trường chuyển hóa năng lượng, tắm giặt, làm sạch mọi thứ…
- Ngài Vi sơn thần, đây là vị thần cai quản về núi rừng, điều hòa về dưỡng khí trong lành cho sự hô hấp điều kiện tất yếu của sự sống.
- Trinh đồng Cửu thiên Huyền nữ đây là vị thần cai quản về không gian, nơi chứa đựng con người.
- Ngài Tuyên vũ Thiên Tướng, đây là vị thần cai quản về gió mưa, những điều kiện tạo nên vụ mùa bội thu, tạo lương thực cho đời sống, vì dân tộc Lạc Việt gắn với nền văn minh lúa nước nên đây là một vị thần quan trọng cho đời sống con người.
- Công đồng Lai sơn Thánh Mẫu, vị thần cai quản về cây cối, mọi loại cây như cây lương thực, cây thuốc để đảm bảo cho sức khỏe, sự tồn tại của con người.
- Ngũ vị chư linh thần thông qua các hình tượng là Thanh Long thần, Bạch Hổ thần, Chu Tước thần, Huyền Vũ thần, Hạc thần, đây là những vị thần bảo vệ thần lực địa mạch khâm dư bên trong của ngôi nhà.
- Chư Tiên gia Cao thanh tằng Tổ khảo, Cao thanh tằng Tổ tỷ đây là những vị thần cai quản về Cửu môn, là tổ tiên của mỗi dòng tộc ngự ở án Hạc thần, bàn thờ gia tiên.
- Ngài Đương niên Cai quản Thái tuế Chí đức Tôn thần, vị thần cai quản về thời gian.
- Bà chúa kho – gắn liền với hình tượng con cóc (Bà sa ni) là cậu ông trời cai quản vụ mùa bội thu, là vị thần cai quản về kho cất giữ tiền tài, lương thực, sự trù phú.
- 12 bà mụ - hình tượng 12 linh vật là thần cai quản về sinh sản, về đặc tính bản mệnh của mỗi cá nhân tương ứng với mỗi linh vật khác nhau.
- Cửu cô, cửu cậu là thần cai quản về mối quan hệ bạn hữu, các mối quan hệ trong cộng đồng, xã hội, sự tương thân tương ái, kết nối, giao lưu để tạo sự giúp đỡ và phát triển.
- Thổ công, thần tài, thổ địa là vị thần cai quản về nghề nghiệp, địa vị, đất đai những điều kiện duy trì và phát triển cá nhân, sự sống.
Thứ ba, coi trọng và luôn luôn hướng đến tính cân bằng tâm thái tinh thần con người Việt giữa các cặp phạm trù triết học như: Tốt và xấu, thiện và ác, được và mất, thắng và thua, hạnh phúc và đau khổ, khỏe mạnh và đau ốm, thông thái và vô minh, tích cực và tiêu cực… Cũng như tính cân bằng quy luật tự nhiên, bản chất của sự vật, hiện tượng về cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất yếu và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực …
Từ những giá trị văn hóa tâm linh trên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam trải qua các giai đoạn thăng trầm của thời kỳ lịch sử hình thành và tồn tại cho đến ngày nay, đã trở thành một tôn giáo gọi là Lương đạo (Đạo Lương, Lương giáo). Hệ thống niềm tin mang tính dân tộc có kết cấu và tổ chức chặt chẽ về bản thể luận triết học. Dưới đây là phần trích di huấn thư của Trình quốc công – Đô ty thừa tuyên Quảng Nam: NGUYỄN ĐỨC TRUNG - Ông là một Lạc Mo thời Trung đại giúp vua Lê Thánh Tông mở cõi về phương Nam chinh phục Chămpa năm 1471.
Do vậy, thờ cúng tổ tiên là nét đẹp văn hóa tâm linh có thể khẳng định như một thực thể tôn giáo. Vì đó là sự vật hiện tượng tồn tại khách quan trong đời sống văn hóa dân gian, là phần không thể tách rời trong văn hóa dân tộc, trong đó có văn hóa xuyên suốt từ thời đại Hùng Vương cho đến nay. Nó góp phần xây dựng tinh thần yêu nước, sự tự tôn, hướng con người tới mục đích Chân - Thiện - Mỹ. Việc này đóng góp một phần không nhỏ trong việc giáo dục con cháu hướng về tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên nhằm khẳng định, nhận thức rõ về tính ác và tính thiện, suy tôn lịch sử phát triển của dân tộc ta cho đến ngày nay - văn hóa tâm linh.
Như đã chỉ rõ các giá trị văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Việc giữ gìn và phát triển các giá trị ấy và định hướng các mô hình thờ tự, từ gia đình đến xã hội là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Với xu thế hòa nhập sâu và rộng giữa các nền văn hóa tâm linh trên thế giới. Nhằm lưu giữ kí ức về tổ tiên, trước hết cần nhận biết những nét đặc trưng về nghi thức thờ cúng như sau:
Thứ nhất, tính duy lí phản ánh đặc trưng trong đời sống của người Việt. Vì vậy trong gia đình hình ảnh của những người đã khuất luôn luôn hiện hữu và không xa rời đời sống của những thành viên trong gia đình và làng xã.
Thứ hai, quan niệm rằng chết không phải là kết thúc sự sống mà là trạng thái sinh vào Cửu huyền Thất tổ, Dị Tam Miếu - Đại Vũ Thần - một thế giới siêu nhiên mà con người không thể nhìn thấy được.
Thứ ba, bàn thờ gia đình là nơi con cháu thể hiện lòng thành đối với thần linh và là nơi lưu giữ những hình ảnh thân thuộc nhất về những người đã khuất. Giúp khơi dậy trong con cháu hoài niệm về cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Từ những nét đặc trưng trên đã hình thành nên đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, là nơi khởi phát từ lòng hiếu kính ân trọng, nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người ngay từ lúc còn thơ qua những câu ca dao như: “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu. Có cha có mẹ rồi sau có mình.”
Từ đây hình thành nên ngày tưởng nhớ, ngày cúng trong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng ngày mất (còn gọi là kỵ nhật) vì tin rằng đó là ngày sinh vào cõi vĩnh hằng. Ngoài ra việc tưởng nhớ còn được thực hiện đều đặn vào các ngày 30, ngày 15 là ngày hồi tâm, công đạo về điều đúng/ sai, tốt/ xấu trong một tháng vừa qua. Ngày 1, ngày 16 còn gọi là ngày sóc vọng, dùng để cầu xin, nguyện ước về những điều tốt đẹp và gửi lời khấn cầu cho các vị thần. Ngày 9 là ngày vía Đấng tối cao, Tam Thanh Ngọc đế, Tam tòa Thiên Mẫu từ Đại Vũ Thần cầu xin về trí tuệ. Ngày 18 là ngày vía Mẫu từ Dị Tam Miếu – Cửu huyền Thất tổ cầu xin về sự bảo bọc, che chở. Ngày 27 là ngày tưởng về các vị thần quần nhiên cầu xin tài lộc và thịnh vượng. Bên cạnh đó còn có các lễ Tết khác trong một năm như: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực, Tết Trung thu, Tết Trùng cửu, Tết Trùng thập…Cũng như những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử…, người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và cầu tổ tiên phù hộ, hay tạ ơn khi công việc thành công.
Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt xuất phát từ niềm tin của người sống đối với người chết, có sự liên hệ mật thiết thiêng liêng và hỗ trợ nhau. Con cháu thì nhớ về ân đức của tổ tiên, thăm hỏi ở thế giới bên kia, khấn cáo tiền nhân những điều đang diễn ra ở hiện tại, cầu xin tổ tiên chứng thị và gia hộ. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc thờ cúng là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm, thế giới hữu hình và thế giới vô hình, thế hệ sau với bậc tiền nhân đời trước. Đã định hình diện sắc văn hóa phồn thần qua thể thức lễ nghi gia tiên là hệ thống bao gồm phần lễ và phần nghi.
Phần lễ là những quy ước về vật phẩm, số lượng, cách bài trí như hoa quả, trầu cau, muối gạo, ngũ cốc, nước, lửa…như thế nào cho đúng và trang nghiêm. Về phần nghi quy định cách thức vái lạy, trang phục, lời khấn vái, thần chú diễn tiến như thế nào cho đúng trình tự.
Phần nghi thể hiện phương thức giao tiếp, lời nói chuyện, cầu xin với thần linh, tổ tiên, thể hiện tấm lòng thành khẩn, cầu nối liên kết thiêng liêng cầu thị tính Chân - Thiện - Mỹ. Tình yêu thương của cha mẹ, ông bà đối với con cái là vô cùng lớn lao, dù con cái có như thế nào, tốt đẹp hay không tốt, giàu hay nghèo, sang hay hèn, hiếu thảo hay bất hiếu nhưng khi con cái quay trở về quỳ gối bên cha mẹ xin tha thứ thì sẽ đều được tha tội và được yêu thương như một lẽ tự nhiên. Do vậy, người Việt luôn có một điểm tựa tinh thần vững chắc chính là cha mẹ, là gia đình, là dòng tộc của chính mình. Luôn coi trọng tính gia đình, làng xã và tôn thờ điều đó, luôn tạo ra những giá trị tốt đẹp cho nền văn hóa tâm linh mà ngày hôm nay chúng ta vinh danh chỉ phục lại.
IV. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
Ngày hôm nay, trong không gian hội thảo khoa học này, tôi trân trọng kiến nghị các viện khoa học và lãnh đạo các cấp chính quyền, 08 giải pháp hành động hữu ích nhằm phát huy giá trị tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Việt Nam:
1. Tổ chức các khóa đào tạo và giáo dục về tâm linh để tăng cường kiến thức và nhận thức về văn hóa thờ cúng tổ tiên cho người dân. Đa dạng hóa các hoạt động bằng cách kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, thích ứng với nhu cầu và yêu cầu của thế giới đương đại.
2. Thúc đẩy nghiên cứu khoa học tâm linh, tạo ra các nguồn tài liệu giáo dục về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của Việt Nam. Xây dựng và phát triển các công cụ kỹ thuật số để truyền tải kiến thức thờ cúng tổ tiên, giúp cho các thế hệ trẻ tiếp cận và hiểu rõ hơn về văn hóa truyền thống dân tộc.
3. Khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động thờ cúng tổ tiên được tiến hành trong môi trường lành mạnh và tôn trọng các quy định pháp luật. Tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, các chuyên gia thực hiện các dự án tâm linh, giúp đưa ra các giải pháp cụ thể để bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc.
4. Xúc tiến và quy hoạch xây dựng các công trình tưởng nhớ vua Hùng tại các tỉnh thành đúng quy định pháp luật và tạo điều kiện về quyền lợi của người dân được tiếp cận tưởng nhớ tổ tiên. Bổ túc các chương trình giáo dục từ cấp tiểu học đến đại học, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về văn hóa thờ cúng tổ tiên.
5. Đổi mới phương thức tổ chức các hoạt động thờ cúng tổ tiên theo hướng hiện đại và tiện lợi hơn, phù hợp với nhu cầu và yêu cầu của thời đại. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa tâm linh, để có thể học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm với các nước khác về cách bảo tồn và phát triển.
6. Thúc đẩy các hoạt động tín ngưỡng mang tính xã hội, góp phần vào việc chấn hưng đạo dức và hạn chế các vấn nạn xã hội. Thúc đẩy sự đa dạng hóa về văn hóa tín ngưỡng, tôn trọng các giá trị của các tôn giáo khác nhau trong cộng đồng xã hội Việt Nam.
7. Tăng cường giám sát và kiểm soát các hoạt động liên quan đến văn hóa tâm linh, tránh việc lợi dụng thần thánh để chiếm đoạt tài sản của người khác. Nâng cao nhận thức của người dân về văn hóa thờ cúng tổ tiên với lý luận khoa học thực tiễn, định hình văn hóa truyền thống từ trong gia đình.
8. Thúc đẩy sự đa dạng hoá và phát huy các giá trị di tích trong cộng đồng Việt Nam. Đẩy mạnh phát triển các dịch vụ sản phẩm văn hóa, du lịch liên quan đến các địa danh thờ cúng tổ tiên, tạo điều kiện cho người dân và du khách có thể tiếp cận và trải nghiệm văn hóa truyền thống.
Dựa trên 05 cơ sở hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã tạo ra những giá trị văn hóa tâm linh cốt lõi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được khắc họa rõ nét qua ba nội dung lớn. Từ đó, hình thành 03 nét đặc trưng trong lễ nghi thờ cúng tổ tiên. Đã giúp làm rõ những giá trị truyền thống có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh của người Việt Nam chúng ta. Định hình rõ 08 định hướng nghiên cứu khoa học, về bản sắc văn hóa tâm linh, Lương đạo của người Việt, trong các mối tương quan giữa các nền văn hóa khác trên thế giới. Bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển và hội nhập vào thời kỳ công nghệ 4.0. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (đạo Lương) đã phát huy sức mạnh tính liên kết từ trong gia đình, tộc họ, làng xã và lan tỏa đến cộng đồng người Việt Nam, vinh danh niềm tự hào về truyền thống văn hóa Việt Nam, đậm đà bản sắc dân tộc.

TS. Nguyễn Đăng Huy - Chủ tịch Viện Nghiên cứu và Phát triển Văn hóa Dân tộc Việt Nam (INREC) trình bày tham luận tại Hội thảo.



Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Lăng Gia Long sau buổi Hội thảo.
Thân ái và trân trọng.
Bình Định, ngày 18 tháng 02 năm 2023
Tiến Sỹ - Nguyễn Đăng Huy